Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

Những câu chuyện dạy giáo lý 01 - 90

Bình chọn:
{[['']]}


01. Đức Mẹ là Mẹ chúng ta

Ngày kia, thánh Gioan Bosco rao giảng về vinh quang của Đức Mẹ Maria tại nhà thờ chính tòa Tôrinô.
Đang giảng, ngài bỗng dừng lại thinh lặng một hồi lâu rồi đặt câu hỏi với bổn đạo: "Ai trong anh chị em có thể nói cho tôi biết Đức Mẹ là ai?"
Có người thưa ngay: "Thưa Cha, Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa".
Thánh Gioan Bosco gật đầu, nói tiếp: "Đúng thế, Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng nói thế vẫn chưa đủ. Tôi muốn anh chị em kể hết những tước hiệu của Đức Mẹ Maria."
Liền sau đó, bổn đạo thi nhau kể ra tất cả những tất cả những tước hiệu của Đức Mẹ: Đức Mẹ là cửa Thiên Đàng, Đức Mẹ là Đấng an ủi những kẻ có tội, Đức Mẹ là Đấng phù trợ các tín hữu, Đức Mẹ là Đấng cứu chữa kẻ bệnh tật, v.v...
Sau khi nghe kể hết những tước hiệu mà người ta dâng kính lên Đức Mẹ Maria, thánh Gioan Bosco mỉm cười nói tiếp: "Đức Mẹ Maria có tất cả những tước hiệu mà anh chị em vừa kể ra, nhưng vẫn chưa hết. Tôi muốn nói thêm về Đức Maria."
Chờ mãi vẫn không thấy có câu trả lời nào, thánh nhân liền nói: "Tôi xin được nói với anh chị em về Đức Mẹ Maria là ai: Ngài là Mẹ chúng ta. Phải, Ngài là Mẹ chúng ta. Đó là điều đáng nói nhất về Mẹ Maria. Trên trần gian này, không ai có thể gần gũi thiết thân với chúng ta cho bằng mẹ chúng ta, không ai yêu thương chúng ta hơn mẹ chúng ta. Cũng thế, trên Thiên Đàng, không có vị thánh nào yêu thương chúng ta và sẵn sàng lắng nghe chúng ta cho bằng Đức Mẹ Maria là Mẹ chúng ta."

02. “Ông không biết Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ của tôi sao?”

Đó là lời của linh mục Macero Palazuelos nói với vị chỉ huy nghịch đạo khi cha bị bắt dẫn đi đến trại giam.
Khi đang bị dẫn đi giữa đường, cha xin được phép ghé thăm Mẹ mình một chút. Viên chỉ huy nghịch đạo tưởng thật, liền cho phép.
Khi thấy cha Macero Palazuelos xăm xăm đi vào một Đền Thờ Đức Mẹ gần đó, ông chận ngài lại, sừng sộ hỏi: “Ngươi xin đi thăm mẹ ngươi, sao ngươi lại đi vào Nhà Thờ nầy làm chi?”
Và khi nghe cha Macero Palazuelos trả lời một cách thản nhiên: “Ông không biết Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ của tôi sao?”, viên chỉ huy nghịch đạo tức đến điên người, bắn chết ngay cha tại chổ không chút xót thương, và Giáo Hội Tây Ban Nha có thêm một vị linh mục tử đạo - tử đạo vì Mẹ của Chúa, vì Mẹ của mình – trong thế kỷ thứ hai mươi nầy.

03. Đức Giáo Hoàng Piô X nhắn với các tu sĩ

Đức Giáo Hoàng Piô X viết những lời sau đây trong một bức thư gởi cho một Dòng chuyên lo giáo dục: "Ta nghe rằng một dư luận đang phổ cập khắp nơi, là muốn cho các con đặt mục đích giáo dục con em lên hàng đầu, và đời tu trì xuống hàng nhì, vì nhu cầu và tình thế hiện tại đòi phải có như thế. Ta không muốn cho dư luận đó có tiếng vang nơi các con cũng như nơi các Hội Dòng khác có mục đích giáo dục như các con. Trong trường hợp của các con đây, các con phải nhất quyết điều nầy, là đời sống tu trì chiếm quyền ưu tiên hơn đời sống hoạt động bên ngoài. Nếu các con có bổn phận trọng đại giáo huấn kẻ khác, thì các con còn có bổn phận trọng đại hơn đối với Thiên Chúa."

04. Con người không hạnh phúc được trên trần gian nầy

Thánh Phanxicô Khó Khăn cùng với thầy Juniper đi dạo trong rừng. Thầy Juniper cao hứng nói to: “Hạnh phúc thay chim bay trong không khí, súc vật ăn trên đồng cỏ, cá lội trong suối nước! Vậy mà, nầy thầy Phanxicô, sao con người lại không đựợc hạnh phúc như vậy nhỉ? ” Thánh nhân trả lời: “Vì chim, súc vật và cá thì được dựng nên cho cõi đời nầy, đó là lý do tại sao chúng sung sướng. Còn con người thì không được dựng nên cho cõi đời nầy, vì thế, con người không thể nào chỉ được hạnh phúc ở trên đời nầy.”

05. Một em gái nhỏ Da Đỏ làm cho một quan chức cao cấp trở lại

Một quan chức cao cấp ở Hoa-Thịnh-Đốn lo về Bộ Thổ Dân Da Đỏ ở Mỹ, ngày kia, đi thăm một ngôi trường của dân Da Đỏ trên miền Tây Bắc nước Mỹ. Ông thấy một nữ tu đang dạy giáo lý. Ông nói chị cứ tiếp tục dạy đi. Chị nữ tu hỏi các em Da Đỏ: “Tại sao Thiên Chúa dựng nên chúng ta?”. Một em gái Da Đỏ giăng tay trả lời: “ Thiên Chúa dựng nên chúng ta để chúng ta biết Ngài, yêu mến Ngài, và phụng sự Ngài ở đời nầy, để được hạnh phúc sau nầy với Ngài.” Quan chức nầy gọi em nhỏ lại và xin em lặp lại câu trả lời của em để ông nghe cho rõ hơn.
Vài tháng sau, nữ tu nầy được một lá thư của quan chức nầy gởi đến, đại ý nói : cám ơn vì đã học biết được ý nghĩa của đời sống qua câu trả lời giáo lý của một em gái nhỏ Da Đỏ trong trường của chị, và ông cho biết ông đang học đạo để được rửa tội trong một thời gian vắn.

06. Muốn giúp ích cho Giáo Hội, hãy dạy giáo lý

Một bà sang trọng và giàu có, trong một buổi yết kiến Đức Thánh Cha Piô X, thành thật tâu lên: “Tâu Đức Thánh Cha, con có thể làm gì để giúp ích cho Giáo Hội?”
Câu trả lời của Đức Thánh Cha vụt bay ra như một mũi tên: “Con hãy đi dạy giáo lý!”

07. Một viên ngọc có giá trị hơn cả một núi đá

Thánh nữ Louise de Marillac buồn phiền vì Đức Giám Mục trong một giáo phận kia không muốn cho chị lập một chi nhánh của Dòng để lo việc bác ái. Thánh Vinh-Sơn khuyên chị thánh nầy : “Một viên ngọc thì có giá trị hơn cả một núi đá. Một hành động tuân phục thì có giá trị trước mặt Chúa hơn mọi số nhiều của những công việc tốt lành.”

08. Mẹ nằm mơ.....

Năm 1913, bà bề trên Francesca Cal... cùng một số nữ tu, đến tiểu bang Seattle để tìm cách thiết lập một cô nhi viện. Đến nơi, bà bề trên sai các nữ tu đi tìm chổ. Các nữ tu về báo cáo: không tìm ra được chổ nào. Bà bề trên lấy bản đồ tiểu bang ra, nhắm mắt cầu nguyện, rồi lấy tay chỉ khống một chổ trên bản đồ. Các nữ tu nhao nhao: “Chúng con biết, chổ nầy không được đâu.”
Bà bề trên nói: các con cứ đến xem. Khi đi xem về, các nữ tu trầm trồ : chổ nầy quá tuyệt, sao Mẹ biết ? Bà bề trên trả lời bí mật : Mẹ nằm mơ... Ngày mai, bà bề trên cùng chị em đi thăm chổ. Khi đi về, các nữ tu đi xe điện ngầm trước, còn bà bề trên ra đường quan, đón xe quá giang. Một phụ nữ lái xe, dừng lại, cho bà bề trên quá giang. Khi biết được bà bề trên muốn chổ đó, người phụ nữ lái xe nói : đó là chổ của chồng tôi. Người phụ nữ gọi điện thoại cho chồng. Chồng tặng bà bề trên khu đất đó. Sau đó, hai vợ chồng liên lạc với bà bề trên : có thêm một người giấu tên, tặng một vạn mỹ kim để giúp bà thực hiện chương trình bác ái đó.

09. Thất học, thế mà làm cố vấn cho hai vị thánh thông thái

Thánh Felice da Cantalive thất học về mặt đời. Dầu vậy, ngài vẫn hãnh diện về việc ngài học được năm chữ đỏ và một chữ trắng. Ngài cắt nghĩa : năm chữ đỏ, là năm Dấu Thánh Chúa Giêsu; một chữ trắng, Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Ngài sống đời cầu nguyện, hy sinh, treo cao gương tốt. hai vị thánh danh tiếng đồng thời với ngài, thánh Carôlô Bôrômêô và thánh Philiphê Nêri, chọn ngài làm cố vấn. Có đời sống nội tâm sâu xa, thì dẫu bất tài, thiếu khả năng, vẫn được Chúa dùng để làm ích cho các linh hồn.

10. Gương tốt của một thầy giáo

Đại sử gia người Đức, Godefroid Kurth thích kể kỷ niệm nầy: Lúc 10 tuổi, tôi học tiểu học. Chiều kia, bãi lớp, tôi ra về, nhưng vì quên một vật ở lớp, tôi lui lại lớp. Tôi đẩy nhẹ cửa bước vào. Tôi tưởng không có ai. Ngờ đâu, thầy giáo tôi đang quỳ cầu nguyện, mắt ngước lên Thánh Giá. Đã hơn 50 năm rồi, mà hình ảnh nầy vẫn sống mãi trong trí tôi. Và hình ảnh nầy đã giúp tôi rất nhiều trên con đường tốt của tôi.

11. Chúng ta hãy trông cậy vào Đức Mẹ Thu Lôi!

Năm 1861, một luồng sét mạnh đánh vào phòng ngủ của linh mục Bosco: đồ đạc trong phong bị hư hại hết, còn ngài thị bị đánh vất xuống đât, bất tỉnh. Sét còn đánh vào phòng các em lưu trú. Giây điện bị đứt, vách nứt, bụi lấm. Tối om. Các em hét vang trời nhưng ngài không nghe vì bất tỉnh.
Khi tỉnh lại, linh mục Bosco lồm cồm bò dậy, cầm đèn đi đến phòng các em. Ngài cười và nói: “Các con đừng sợ! Trên trời, có một Người Cha rất tốt lành và có một Người Mẹ rất tốt lành đang lo lắng cho chúng ta.”
Các em an tâm. Linh mục Bosco cầm đèn đi soi. Ngài thấy đổ nát hết, chỉ còn cây nho là không bị sét đáng. Ngài liền nói lời cám ơn Chúa và vâng theo ý Chúa: “Deo gratias! Sicut Dimino placuyiut! Sit Nomen bêndictum!” – “Tạ ơn Chúa! Xin vâng theo thánh ý Chúa! Xin cho danh Chúa được cả sáng!”
Sét đâu chịu thua linh mục Bosco. Sét đánh thêm một lần thứ hai. Sét còn đánh thêm một lần thứ ba nữa.
Thấy sét đánh đến lần thứ ba, ai ai cũng đề nghị cha Bosco hãy mau mau làm gấp một cái thu lôi và đặt trên nóc nhà cao để chống sét. Linh mục Bosco bằng lòng ngay.
Và mặc dù không tin dị đoan và không có thái độ phản khoa học, linh mục Bosco ôm tượng Đức Mẹ, leo lên đặt trên nóc nhà.
Sau khi đặt xong bức tượng Đức Mẹ trên nóc nhà, linh mục Bosco leo xuống, quy tụ các em lại dưới sân và cùng với các em ngước mắt lên nhìn Mẹ. Ngài cầu nguyện tự phát như sau:
- “Lạy mẹ Thu Lôi, Mẹ đã ba lần gìn giữ chúng con khỏi bị sét đánh chết. Chúng con trông cậy vào Mẹ!”
Và linh mục Bosco mĩm cười nói với các em của mình:
- “Chúng ta hãy trông cậy vào Đức Mẹ Thu Lôi!”

12. Cử chỉ của chú chẳng khác chi cử chỉ của cái thằng vô ơn độc ác kia không?

Người kia chê bai bạn mình vì bạn mình giữ ngày Chúa Nhựt. Người bạn nầy liền trả lời:
- “Nếu tôi có 7 đồng, tôi ra đường gặp một người ăn mày xin tôi, tôi cho anh ta sáu đồng, chú nghỉ sao?”
- “Anh thật đại độ đáng khen, và người ăn mày kia chắc phải cám ơn anh lắm.”
- “Đúng! Nhưng nó lại vật cổ tôi xuống, móc lấy thêm một đồng nữa, thì anh nghỉ sao?”
- “Cái thằng khốn nạn! Nó đáng chết!”
Người bạn liền cắt nghĩa:
- “Nầy nhé, đó là câu truyện của ngày Chúa Nhựt: Chúa cho chú sáu ngày làm việc, Chúa chỉ giữ lại cho Ngài một ngày Chúa Nhựt. Thế mà chú không biết ơn Chúa, không tôn trọng ý của Chúa, cướp ngay cả ngày Chúa Nhựt là ngày của Chúa. Cử chỉ của chú có khác chi cử chỉ của cái thằng vô ơn độc ác kia không?”

13. Một tờ trối làm bỡ ngỡ

Một thanh niên kia không ân cần săn sóc cha mẹ mình vì thấy cha mẹ mình nghèo. Trái lại, anh ta ân cần lui tới săn sóc ông cậu vì thấy ông cậu nầy giàu.
Khi ông cậu qua đời, người thanh niên nầy vui mừng vì tin chắc thế nào cũng được ông cậu trối cho một phần gia tài.
Khi đọc tờ trối, người thanh niên nầy liền hỡi ôi. Trong tờ trối có nói rằng: cậu trối cho cháu ba trăm đồng để mua một cuốn giáo lý mà học biết bổn phận phải sống hiếu thảo với cha mẹ mình.

14. Linh mục là con người của đức tin

Năm 1866, Nhà Nước Italia muốn linh mục Bosco đứng ra làm trung gian giữa Chính Quyền và Tòa Thánh để giải quyết những vấn đề gây khó khăn cho đôi bên.
Dịp nầy, linh mục Bosco liền nói lên lập trường rõ ràng của linh mục :
" Xin hãy biết rằng linh mục Bosco là linh mục tại bàn thờ, linh mục nơi tòa giải tội, linh mục giữa các thiếu niên, linh mục tại Tôrinô cũng như tại Firenxê, linh mục trong nhà có người nghèo khổ sinh sống, cũng như linh mục trong đền vua và trong tòa nhà bộ trưởng ”.
Với những lời thẳng thắn và dài dòng như trên, linh mục Bosco chỉ muốn nói một điều về linh mục : Linh mục là con người đặc biệt của Đức Tin, nghĩa là con người đặc biệt của CHÚA GIÊSU.

15. Đức tin của con quý hơn mạng sống của con nhiều!

Kỳ Giáo Hội Mể Tây Cơ bị bách hại, người ta thấy quân nghịch đạo cột sau xe ôtôi một chàng thanh niên. Chàng nầy chỉ có một tội: không chịu bỏ Đạo, không chịu từ chối đức tin của mình.
Xe ôtô lăn bánh mạnh và nhanh trên con đường gồ ghề. Chàng hnah niên công giáo nầy cắn răng lại. Thịt chàng nát bầm. Máu tuôn ra lai láng. Bùn và đất lấp phủ cả mặt mũi.
Bổng tiếng phanh rít lên và xe ôtô dừng phắt lại. Quân nghịch đạo nhảy xuống xe, lấy gươm dí vào đầu chàng thanh niên nầy và la lên một cách tức tối:
- “Mầy hãy nói đí: đả đảo Giêsu Kitô! Nếu không, mầy sẽ chết!”
Nghe tiếng rộn ràng trước cửa nhà, một người đàn bà vội chạy ra. Bà như điên lên khi thấy con trai yêu quý của mình phải bị hành hạ quá sức dã man. Nhưng để bảo vệ đức tin của con mình, bà mẹ anh hùng nầy liền liều mình xông vào giữa đám lính, đến quỳ bên cạnh con đang hấp hối. Bà vừa khóc, vừa ôm đầu con, vừa nói rõ từng tiếng bên tai con:
- “Con ơi, con đừng bỏ Chúa nhé! Con đừng bỏ đức tin của con nhé! Đức tin của con quý hơn mạng sống của con nhiều!”
Người con liền gật đầu và chết trong tay mẹ mình, trước mặt đám quân lính độc ác, nghịch đạo, đang ngơ ngác, không hiểu vì sao hai mẹ con nầy lại anh dũng đến thế!

16. Khoa học gia khét tiếng Ampère tin Chúa

Ai dùng điện, ai dùng bình điện mà lại không biết đến Ampère?
Ampère, nhà vật lý điện học danh tiếng người Pháp, chiều nào cũng đến Nhà Thờ Đức Bà ở Pari để quỳ lần hột trước Mình Thánh Chúa.
Một sinh viên kia chống đối đức tin của người công giáo. Anh ta luôn huênh hoang tuyên bố những điều nghịch đạo. Ngày kia, khi nhìn thấy nhà khoa học danh tiếng Ampère nầy đang quỳ cầu nguyện và lần hột trong Nhà Thờ Đức Bà ở Pari, anh ta cứng họng, khiếp đảm và không còn dám tuyên bố điều gì nghịch đạo Công giáo nữa.
Khi nằm trên giường bệnh gần chết, Ampère được một nữ tu đọc cho nghe một đoạn sách Gương Phước. Ông thú thật với nữ tu nầy: "Thưa chị, tôi đã thuộc lòng cả cuốn sách Gương Phước nầy rồi ”.

17. Khoa học gia khét tiếng Volta tin Chúa

Ai dùng điện, ai dùng bình điện, ai dùng pin mà lại không biết đến Volta?
Volta, nhà vật lý danh tiếng người Italia, đã phát minh ra "pin”.
Khi nghe có bạn khoa học gia của mình hồ nghi về sự "có Chúa”, ông liền mạnh mẽ nói rằng: "Khoa học chỉ làm cho tôi thấy Chúa hiện diện khắp nơi. Nguyên Nhân tiên khởi, Đấng Ra Luật không sai lầm, Đấng Tạo Hóa, Lý Do cuối cùng của tất cả: đó là CHÚA.”
Volta là giáo lý viên. Ông rất thích dạy giáo lý cho trẻ em. Tại nhà thờ Cômô, ở bắc nuớc Italia, nơi sinh quán của ông, có bia ghi: "Nơi đây, Alessandro Volta đã được rửa tội và đã từng đứng đây dạy giáo lý”.

18. Một người tội lỗi nhất !

Trong cơn hấp hối, thánh Đa Minh, đấng sáng lập Dòng Đa Minh, nói với các thầy: "Cha không hiểu tại sao Chúa không giáng lửa xuống thiêu đốt làng mạc nầy vì nó đang chứa một người tội lỗi nhất trong thiên hạ?”
Các thầy ngơ ngác nhìn nhau.
Một thầy cúi xuống sát tai thánh Đa Minh, hỏi: "Lạy Cha thánh, xin cha cho chúng con biết người tội lỗi ấy là ai để chúng con tìm cách đưa họ về đàng lành."
Thánh Đa Minh bình thản trả lời, từng tiếng rõ : "Người tội lỗi ấy, chính là cha."
Các thầy lại càng ngẩn ngơ, không hiểu được ý của Đấng sáng lập dòng mình. Thánh Đa Minh liền giải thích : "Nếu có một người nào tội lỗi nhất trong thiên hạ, mà được ơn Chúa dồi dào như cha xưa nay, thì người đó sẽ nên thánh bằng mấy ngàn lần cha đây!”

19. Rước Chúa Giêsu Thánh Thể mà không qua lớp Vỡ Lòng tại giáo xứ

Đây là truyện một em nhỏ, tuy chưa qua lớp Vỡ Lòng tại giáo xứ, nhưng vẫn được Đức Thánh Cha cho rước lễ lần đầu.
Trong một buổi triều yết, thấy một người cha dắt một đứa con nhỏ bốn tuổi, Đức Thánh Cha Piô X hỏi và biết rằng em nhỏ nầy chưa được rước Chúa Giêsu Thánh Thể. Ngài liền hỏi em nầy hai câu giáo ly.
Câu thứ nhất: "Con có biết rước lễ là rước ai không?” Em nhỏ đáp ngay: "Dạ, rước Chúa Giêsu Kitô."
Câu thứ hai: "Con có biết Chúa Giêsu Kitô là ai không?". Em nhỏ đáp liền: "Dạ, là Đức Chúa Trời."
Đức Thánh Cha sung sướng xoa đầu em bé và nói với người cha một câu làm mọi người hiện diện sửng sốt: "Ngày mai, khi Cha cử hành Thánh Lễ, ông đem con đến để Cha cho em rước Chúa.”

20. Tình vợ chồng mặn nồng: chồng luôn nghĩ đến vợ!

Năm 1901, tổng thống Mỹ Mac Kinley bị ám sát. Ông sắp chết. Tay ôm lấy vết thương, ông thì thào những lời cuối đời: “Hãy tin cho vợ tôi biết nhưng hãy tin cho thật khéo… vợ tôi, giờ đây, đang ngủ.”

21. Chỉ cần có một người cũng đủ để chúng ta đi truyền giáo

Đức Giáo Hoàng Piô XII nói với các vị thừa sai sắp lên truyền giáo trên Bắc Cực:
“Nếu trên đó, chỉ có một người cần được rao giảng Phúc Âm, thì cũng đủ để cho các con đi lên đó.”

22. Hãy mở rộng trái tim của mình để cứu các linh hồn

Chị thánh Têrêxa Hài Đồng nói: “Tôi là trái tim của Giáo Hội.”
Không phải chị thánh nầy muốn nói chị là trung tâm điểm của Giáo Hội đâu. Trái tim của Giáo Hội phải là một trái tim luôn luôn khắc khoải tìm đủ cách để đem các linh hồn về cho Chúa, hầu thực hiện lời Chúa truyền: “Hãy đi rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc.”
Chị thánh Têrêxa nầy ý thức rằng mình thuộc về Giáo Hội thì trái tim mình cũng phải luôn luôn yêu mến các linh hồn, luôn luôn khắc khoải đem Chúa đến cho các linh hồn, đó là khắc khoải truyền giáo. Vì thế, chương trình của vị thánh bốn mạng các xứ truyền giáo nầy, là : “ Trong quả tim của Giáo Hội là Mẹ tôi, tôi sẽ là tình yêu... Lúc đó, tôi sẽ là tất cả !”

23. Truyền giáo bằng điện thoại

Năm 1939, tại Nữu Ước, một tối kia, cha Hall nghe một cú điện thoại. Lạ thay, người đang nói với cha là một người mà cha chưa hề quen biết. Ông nói ông đang có chuyện buồn trong gia đình.
Cho rằng ông nầy đã quay lầm số điện thoại của mình, cha Hall định xin lỗi ông và gác máy.
Bỗng được ơn Chúa soi sáng, cha Hall cầm chặt lấy cây Thánh Giá trên bàn viết và dịu dàng nói tiếp với người đàn ông đang gọi mình: " Xin ông cứ vui lòng nói, tôi lắng nghe ông nói đây”.
Sau một tiếng đồng hồ tâm sự, ông khóc nức nở và cám ơn cha Hall rối rít.
Và từ đó, bắt đầu một cuộc truyền giáo mới: truyền giáo bằng điện thoại. Mỗi tuần, cha Hall được gọi điện thoại đến ba ngàn lần.
Cha Hall được Giáo Quyền cho phép truyền giáo qua điện thoại để đem Lời Chúa đến cho bất kỳ ai cần được an ủi, giải sáng và hướng dẫn bằng phương tiện truyền thông đại chúng nầy.

24. Thanh niên bệnh nhân nầy có ích cho con như hai cha phó.

Trong một giáo xứ ở Ý, sau Tuần Phúc Chuyến thành công rực rỡ, cha sở mời cha giảng Phúc Chuyến đi thăm cha phó của ngài.
- "Cha phó họ nhánh sao?"
- "Không, cha phó trong họ con."
Cha sở và cha giảng Phúc Chuyến đi vào nhà của một thanh niên hai mươi tuổi đang nằm trên giường bệnh, bất toại.
Cha sở hỏi: "Phêrô, con có khỏe không?"
- "Thưa cha, con luôn khỏe theo như ý Chúa muốn."
Cha giảng Phúc Chuyến hỏi: "Con có đau không?"
- "Thưa cha, con không nghĩ đến điều đó. Còn có những kẻ đau hơn con nhiều."
Rổi hướng về cha sở, bệnh nhân hỏi: "Thưa cha, ông đó đã đi xưng tội chưa?"
- " Đi rồi, ông đó làm gương tốt lắm!"
- " Vậy thì con sẽ dâng ba ngày sống của con để cám ơn Chúa Giêsu. Còn Phúc Chuyến có tốt không, thưa cha ? "
- "Tốt lắm! Có cha giảng đây làm chứng: kết quả lạ lùng!"
- "Vậy thì con sẽ dâng những đêm không ngủ trong tuần nầy để cám ơn Chúa quá tốt lành đối với giáo xứ chúng ta. Thưa cha, còn có gì lạ không?"
Cha sở đưa ra một danh sách các ơn cần phải xin cho giáo xứ. Thanh niên bệnh nhân đọc nhỏ và nói: "Đây là công việc của con. Con sẽ cầu nguyện và hy sinh thật nhiều để xin Chúa ban những ơn nầy."
Cha sở hỏi: "Con có cần gì không?"
Bệnh nhân nhắm mắt nói nhỏ: "Thưa cha, không. Xin cha chúc lành cho con".
Trên đường về nhà xứ, cha sở vui vẻ nói với cha giảng Phúc Chuyến: "Thanh niên bệnh nhân nầy có ích cho con như hai cha phó. Anh ta là thu lôi của giáo xứ con".

25. Người ta trở lại một cách không ngờ!

Truyền giáo chẳng qua là nói lên cho mọi người biết họ được Thiên Chúa yêu thương, và biết chứng minh điều nầy trong cuộc sống. Nếu người ngoài công giáo thấy người công giáo thực thi luật yêu thương bác ái thật của Phúc Âm đối với họ, thì thế nào họ cũng có thiện cảm đối với Giáo-Hội, và một ngày kia, thế nào cũng có người xin trở lại. Câu chuyện cảm động sau đây chứng minh điều nầy. Câu chuyện nầy do linh mục Cluny, cha sở giáo xứ Taejou ở Nam-Hàn, kể.
Giáo dân Lôrăng, 26 tuổi, đến nói cho ngài biết anh ta vừa rửa tội được một người ăn mày chết ngoài chợ.
Khi được tin nầy, các bạn thanh niên công giáo trong giáo xứ liền hy sinh góp tiền lại để mua đồ liệm, đóng hòm.
Anh Lôrăng xin cha sở cho phép đem quan tài vào nhà thờ, cầu nguyện một đêm, sáng mai làm lễ an táng và đưa đám. Cha sở rất bằng lòng trước sáng kiến đầy bác ái yêu thương của con chiên mình.
Nghe được tin nầy, nhiều giáo dân đến canh thức tối cầu nguyện.
Sáng mai, nhiều giáo dân trong giáo xứ đi dự lễ an táng và đi đưa đám.
Vài ngày sau, - cha sở nói - khi tôi đến một làng cách xa giáo xứ tôi ba mươi cây số, có hai ông lão đến gặp tôi và nói lên câu làm tôi bỡ ngỡ: "Sự bác ái và kính trọng của người công giáo đối với người chết làm chúng tôi hài lòng. Chúng tôi biết được điều Giáo Hội Công giáo đã làm cách đây mấy ngày đối với người chết nơi chợ. Vì thế, chúng tôi muốn xin trở lại Đạo Công giáo."
Và cha Cluny kết luận: "Thật là tuyệt diệu ! Các thanh niên trong giáo xứ của tôi đã làm cho Giáo Hội được thiện cảm và được hấp dẫn nơi con mắt của những người ngoài Công giáo và ngay cả nơi con mắt của những người Công giáo ".

26. Dấu chỉ thứ năm của Giáo Hội là bị bắt bớ

Trong một buổi triều yết chung, Đức Giáo Hoàng Piô IX hỏi một chủng sinh đứng gần:
- “Giáo Hội có mấy dấu chỉ? "
- " Tâu Đức Thánh Cha, Giáo Hội có bốn dấu chỉ: duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền ".
Đức Thánh Cha hỏi tiếp:
- " Giáo Hội còn có dấu chỉ nào nữa không?"
Không ai trả lời được câu hỏi của Đức Thánh Cha. Đức Thánh Cha liền trả lời:
- "Dấu chỉ thứ năm của Giáo-Hội là bị bắt bớ. Các con hãy nhớ lại lời Chúa Giêsu phán: "Như người ta đã bắt bớ Thầy, người ta cũng bắt bớ các con. Các con sẽ bị người ta ghét bỏ vì Danh Thầy".

27. Hai cánh tay của Môisê giơ lên trời cầu nguyện

Khi nhấn mạnh về giá trị và hiệu quả của sự cầu nguyện, Bossuet nói rằng hai cánh tay của Môisê giơ lên trời cầu nguyện đã tiêu diệt được nhiều địch quân hơn những binh sĩ Do Thái đang chiến đấu mgoài mặt trận.

28. Gia đình đọc kinh sáng đã cứu được một Đức Cha

Làm sao cho giáo dân có tinh thần cầu nguyện trong gia đình là điều rất quan trọng để giúp giáo dân giữ vững đức tin.
Kinh nghiệm cho thấy nhiều giáo xứ không có linh mục nhưng đã giữ vững được đức tin suốt nhiều năm nhờ sự đọc kinh cầu ngụyện tối sáng trong gia đình.
Trong thời kỳ Bắt Đạo tại Việt-Nam, Đức Cha Bình (Sohier) chạy trốn ban đêm, và nhờ nghe một gia đình công giáo đọc kinh sáng khi rạng đông mà xin vào núp, nên đã được thoát chết.

29. Cha học hành chưa dủ !

Thánh Salêsiô ví sự thông thái như con mắt của linh mục để thấy đường mà đi và để dẫn đường cho kẻ khác thấy mà đi.
Công Đồng Tôlêđô, đầu thế kỷ VII, khẳng định rằng: "Linh mục phải là kẻ không được ngu dốt”.
Muốn có một nền giáo lý vượt trổi, linh mục nào cũng cần phải hằng ngày học hỏi thêm luôn. Và điều nầy, Đức Giám Mục giáo phận phải hết sức nâng đỡ các linh mục trong giáo phận phận ngài thực hiện cho được, kẻo các linh mục của ngài bị tụt hậu.
Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Mercier bắt buộc các linh mục trong giáo phận ngài mỗi ngày phải ngồi vào bàn làm việc trong ít nữa là hai tiếng đồng hồ để học hỏi thêm, để nghiên cứu thêm.
Đức Giám Mục Bossuet tuy rất thông thái, nhưng ngày nào cũng ngồi trong phòng làm việc để học hỏi thêm. Ngài thường nói chơi với bổn đạo: "Cha học hành chưa đủ!". Vì thế, một giáo dân kia thương hại ngài và ao ước: "Chớ gì giáo phận chúng ta có một Đức Cha học hành cho đủ. Đức Cha chúng ta học hành chưa đủ, nên ngày nào, ngài cũng phải học thêm!”.
Linh mục chúng ta hãy lợi dụng thời giờ để học hỏi thêm, tìm tòi thêm, nghiên cứu thêm. Thời giờ rất quý báu. Dầu đã đầu tư rất nhiều vào việc học, linh mục cũng không bao giờ được tự mãn, tự cho những sự hiểu biết của mình là đủ. Linh mục nào cũng hãy tự nhủ: điều tôi biết, thật là quá ít; điều tôi không biết hoặc chưa biết, thật là mênh mông, bao la!

30. Sơ đòi bao nhiêu?

Một du khách Thệ Phản người Mỹ du lịch qua Algérie và đi thăm một nhà thương phung.
Thấy một nữ tu người Mỹ làm việc tại nhà thương nầy, ông nói với người đồng hương:
- “Một vạn đôla mỗi năm làm việc tại đây, tôi cũng không muốn.”
Nữ tu trả lời một cách bí mật:
- “Ông nói có lý. Nhưng đối với tôi, trả cho tôi mười vạn đôla mỗi năm, tôi cũng không chịu.”
- “Thế thì sơ đòi bao nhiêu ? ”
- “Thưa ông, tôi không đòi gì cả.”
- “Thế thì tại sao sơ lại có mặt giữa những người ghê tởm nầy?”
Vị nữ tu truyền giáo cầm lấy cây Thánh Giá mang nơi mình và nói:
- “Ông thấy Chúa Giêsu chịu đóng đinh không? Tôi làm mọi việc ở đây vì yêu mến Ngài. Trong các vết thương của những người phung hủi đáng thương nầy, tôi đặt những vết thương của Chúa Giêsu trên thánh giá vào đó. Để làm được những công việc nầy ở đây, mỗi ngày tôi cần phải được rước Chúa Giêsu vào lòng; nếu không, tôi không đủ sức chịu đựng cuộc sống ghê tởm ở đây. ”

31. Thánh khiêm nhượng, mới là thánh thật

Đức Trinh Nữ Maria, khi được thiên sứ từ trời xuống báo cho biết là sẽ làm Mẹ của Con Đức Chúa Trời, thì ngay chính lúc cao sang có một không hai nầy, lại hạ mình, quỳ xuống, cúi đầu và xác tín nói rằng: “Nầy tôi là tôi tớ Đức Chúa Trời.”
Thánh Gioan Tiền Hô, được Đấng Cứu Thế khen là vị tiên tri cao cả nhất, là người nam thánh thiện nhất trên trần gian nầy, xác tín nói về mình rằng: “Tôi không xứng đáng cởi giây giày cho Người”.
Thánh Phêrô, vị Thủ Lãnh Các Tông Đồ, vị Đại diện của Chúa Giêsu trên trần gian nầy, nói: “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con vì con là người tội lỗi.”
Thánh Phaolô, vị Tông Đồ lo việc loan báo Tin Mừng không kể ngày đêm, vẫn tự xưng mình là kẻ rốt nhất trong số các Tông Đồ.

32. Ta không giống ngươi!

Lần kia, ma quỷ hiện ra nói với thánh Macariô: “Ta không khác gì ngươi. Ngươi ăn chay hãm mình, ta cũng không ăn uống gì… Ta chỉ khác ngươi một điều, là ngươi thì khiêm nhượng, còn ta thì kiêu ngạo.”

33. Uy tín của vị lãnh đạo thật lạ lùng là dường nào!

Tháng chín năm 1862, trong cuộc nội chiến Nam Bắc của Hoa Kỳ, quân đội phương Bắc bại trận và rút lui. Các nhà cầm đầu quân đội phương Bắc lúc bấy giờ, đứng trước sự kiện nầy, vô cùng lo âu. Họ thấy trước chắc chắn một cuộc thất bại rất nặng nề. Và họ bất lực, không tìm ra được một giải pháp nào để chuyển bại thành thắng
Bỗng tổng thống Lincoln nhớ đến một người: đó là vị tướng đã hồi hưu, Mc Clellan. Vị tướng nầy đã từng huấn luyện binh sĩ phương Bắc chiến đấu. Binh sĩ quý mến ông, khâm phục ông. Tổng thống Lincoln muốn cho tướng Mc Clellan nầy đi gặp các binh sĩ bại trận của mình đang rút lui, và truyền cho họ sự nhiệt tình, sức mạnh và niềm hy vọng. Mc Clellan chấp nhận sứ mệnh nầy. Ông xuống ngay tiểu bang Virginia để chỉ huy đám binh phương Bắc bại trận, đang rút lui, rã rời tơi tả.
Leo lên con ô mã to lớn, Mc Clellan một mình phóng ngựa xuống những nẻo đường cát bụi ở vùng Virginia. Gặp đoàn quân bại trận đang thất thểu rút lui, Mc Clellan giơ nón lên cao vẫy tay chào họ một cách vui vẻ. Ông nói to lên những lời can đảm để động viên họ. Và ông chỉ tay thẳng về phía trước mặt ông, giục họ quay lui chiến đấu.
Và phép lạ đã xảy ra: đoàn quân đang lê bước nặng nề một cách thê thảm trong cuộc rút lui nhục nhã nầy, bỗng bắt đầu được hồi sinh. Thấy vị chỉ huy mà mình yêu mến và khâm phục, họ la hét ầm ỹ. ném tung mũ nón và túi vải lên trên không. Họ hăng hái quay lui chiến đấu cùng với vị chỉ huy của mình. Và đoàn quân nầy, trước đây đã thảm bại, thì nay đánh đâu, thắng đó.
Uy tín của vị lãnh đạo thật lạ lùng là dường nào!

34. Cầu nguyện là sức mạnh lớn nhất giúp chúng ta giải quyết những vấn đề

Một người kia thành công trong công việc làm ăn của mình. Khi mới mở tiệm, ông chỉ có một chỗ rất nhỏ và chỉ có một người làm công. Nay, ông có nhiều tiệm buôn mới, có nhiều người giúp việc. Ông chân thành thổ lộ:
- "Làm việc chăm chỉ, tư tưởng tích cực, xử sự với khách hàng một cách tốt đẹp, bán giá phải chăng, cầu nguyện thức tỉnh,.... đó là những yếu tố luôn giúp tôi thành công".
Nhờ xác tín rằng việc cầu nguyện phải là trước tiên và phải là điều cần thiết số một, ông nầy đã giữ được đầu óc sáng suốt để gỡ rối mọi vấn đề và ông có đủ sức manh để lướt thắng mọi khó khăn trở ngại.
Thật như kinh nghiệm của thánh Tôma tiến sĩ: ngài nói ngài tìm được những giải đáp cho những vấn đề rắc rối khó khăn không phải trong sách vỡ, không phải nơi những người cố vấn, nhưng trong khi quỳ cầu nguyện trước Nhà Chầu Thánh Thể.

35. Bổn phận dạy giáo lý của linh mục quản xứ

Dạy giáo lý là bổn phận của linh mục quản xứ phải làm hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng, hằng năm. Và bổn phận dạy giáo lý nầy, linh mục quản xứ phải làm đối với mọi thành phần giáo dân trong giáo xứ của mình, không trừ một thành phần nào.
Khi đến giáo xứ Ars, thấy giáo dân không biết giáo lý, cha sở Vianê liền bắt tay ngay vào việc dạy giáo lý, đặc biệt là ngài dạy giáo lý cho toàn thể giáo xứ lúc 13giờ mỗi ngày Chúa nhựt. Ngài đã luôn trung thành với việc dạy giáo lý hằng tuần nầy trong suốt 27 năm.

36. Giáo Hội thật quá lạ lùng !

Nơi lâu đài mà ngày xưa hoàng đế Maximianô ra lệnh giết Đạo một cách ghê gớm, thì sau đó, là nơi xây Đền Thờ Latêranô.
Trên nơi chôn cất bạo chúa khét tiếng Nêron, là Đền Thờ của Đức Mẹ Toàn Dân (Santa Maria del Popolo ).
Trên mộ của kẻ nghèo hèn, bị đóng đinh chổng chân lên trời là thánh Thánh Phêrô, là Đền Thờ Thánh Phêrô hiện nay tại Rôma, thủ đô nước Italia.

37. Thánh Lễ và Thánh Thể làm cho giáo xứ sống động !

Thánh Lễ và Thánh Thể là lẽ sống của người tín hữu công giáo, là sức mạnh nâng đỡ linh mục quản xứ và đoàn chiên của ngài. Giáo xứ sống động là giáo xứ trong đó linh mục quản xứ và giáo dân yêu thích Thánh Lễ và Thánh Thể.
Các tín hữu đầu tiên trong Giáo Hội sơ khai bị bắt bớ vì đã họp nhau dâng Thánh Lễ trong ngày Chúa nhựt. Trong một bản báo cáo đệ trình lên hoàng đế Tragianô, tỉnh trưởng Plinô viết: "Các người Kitô-hữu đang bị giam, quả quyết rằng tất cả lỗi của họ là ở chỗ họ họp nhau vào ngày nhứt định trước lúc hừng đông để cùng nhau ca hát tôn vinh Đức Kitô là Chúa ”.

38. Dự Thánh Lễ từ xa, điều nầy đã có từ lâu rồi trong Giáo Hội!

Năm 1793, Giáo Hội Pháp bị bách hại. Các linh mục quản xứ bị bắt và bị đuổi ra khỏi giáo xứ của mình.
Tại giáo xứ Morlaix ở Finistère, mặc dầu linh mục quản xứ đã bị bắt, nhưng sáng Chúa nhựt hôm đó vẫn có tiếng chuông vang lên, báo hiệu có Thánh Lễ.
Quân lính nghịch đạo đổ xô ngay đến nhà thờ nầy, quyết bắt cho được linh mục nào cả gan đến làm lễ vì họ đã đuổi linh mục quản xứ ra khỏi giáo xứ rồi.
Khi đến nơi, quân lính an tâm vì thấy nhà thờ vẫn bị đóng cửa như họ đã niêm phong. Nhưng họ ngạc nhiên vì nghe tiếng đọc kinh ở ngoài Đất Thánh, bên cạnh nhà thờ. Họ thấy các bổn đạo đang quỳ gối sốt sắng đọc kinh cầu nguyện tại Đất Thánh. Họ mĩm cười chế nhạo và nói một cách đắc thắng:
- "Nhà thờ đã bị niêm phong, cha sở đã bị trục xuất, các ngươi làm gì ở đây?”
Các giáo dân Morlaix hiên ngang trả lời:
- "Chúng tôi đang dự Thánh lễ ngày Chúa nhựt.”
- "Ủa! có lễ đâu mà dự ? ”
- "Có chứ ! Trước khi cha sở chúng tôi bị trục xuất, ngài có dặn chúng tôi rằng: ngày Chúa nhựt nào, lúc 08 giờ sáng, ngài cũng tìm cách dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho giáo xứ chúng tôi. Vì thế, hôm nay là ngày Chúa nhựt, chúng tôi đến đây để tham dự Thánh Lễ lúc 08 giờ.”
- " Các ngươi điên sao ! Dự lễ từ xa như thế, làm sao được?”
Và các giáo dân Morlaix xác tín trả lời:
- "Không có xa gì! Lời cầu nguyện chúng tôi nối trời lại với đất. Lời cầu nguyện chúng tôi đi từ đất lên trời. Thánh Lễ là lời cầu nguyện trên hết của chúng tôi. Bất kỳ ở đâu, chúng tôi cũng vẫn thông hiệp được với nhau trong Thánh Lễ.”

39. Lẽ nào lại giao cho Chính Quyền bảo trợ?

Tại Tôrinô, một thành phía Bắc nước Italia, linh mục Cottolengo sáng lập một cơ sở bác ái từ thiện một cách động trời: ai đau bệnh gì, vào cơ sở nầy, đều được săn sóc một cách hết sức chu đáo và tân tậm, đặc biệt là những bệnh nan y, những bệnh lạ đời, những con người quái thai. Ngài gọi cơ sở nầy là Nhà Nhỏ của Chúa Quan Phòng (Piccola Casa della Providenza).
Ngày kia, vua Charles Albert nói với linh mục Cottolengo:
- “Theo trẩm thì linh mục nên đặt công việc của mình dưới sự bảo trợ của Chính Quyền.”
Linh mục Cottolengo khiêm tốn trả lời một cách siêu nhiên:
- “Tâu bệ hạ, thần không thể làm điều nầy được vì nhà nhỏ nầy (Piccola Casa) đã được đặt dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ và của Chúa Quan Phòng. Làm thế nào mà thần lấy lại để trao cho Chính quyền bảo trợ?”

40. Tuân phục đem lại an bình!

Đức Hồng Y Barôniô (+1607) là nhà nghiên cứu danh tiếng về lịch sử Giáo Hội Công giáo. Ngài nghiên cứu lịch sử Giáo Hội trong bốn mươi năm và đã viết ra Những Cuốn Niên Sử Giáo Hội. Trong đời mình, ngài đã gặp nhiều trường hợp tuân phục khó khăn, nhưng ngài đã lướt thắng được tất cả.
Lúc về già, Đức Hồng Y Barôniô thường đến viếng Đền Thờ Thánh Phêrô tại Rôma, quỳ cầu nguyện sốt sắng trước mộ Thánh Tông Đồ Phêrô. Và mỗi khi ra về, ngài đến nơi Tượng đồng Thánh Phêrô đặt gần cửa Đền Thờ, cung kính hôn chân Thánh Phêrô và thầm thì nói câu La Tinh: “Obedientia et Pax” (Tuân Phục đem lại An Bình).
41. Xin Cha giúp con nên thánh
Để thưởng các em ngoan ngoản, thánh Bosco có sáng kiến:
- "Em nào muốn gì, cứ viết ra nơi giấy, Cha sẽ tìm cách cho các em."
Khi đọc tờ giấy của em Saviô 11 tuổi, thánh Bosco sửng sốt vì trong giấy, Saviô viết: "Xin Cha giúp con nên thán ".

42. Có đủ mọi hạng thánh, ngay cả những vị thánh làm những nghề rất tầm thường

Giáo Hội muốn đánh tan quan niệm cho rằng nên thánh là điều khó, cho rằng phải đặc biệt lắm mới nên thánh, vì thế, Giáo Hội phong thánh nhiều vị đã sống cuộc đời rất tầm thường:
            thánh Matt Talbot làm nghề bốc vác,
            thánh Isidore làm ruộng,
            thánh Paul de Verdun làm bánh mì,
            thánh Marc làm nghề chăn nuôi,
            thánh Aniane làm thợ giày,
            thánh Alexandre de Comane làm nghề đốt than,
            thánh Euphrosimos làm bếp, thánh Alpheé làm thợ rèn,
            thánh Ménigne làm nghề giặt áo,
            thánh Phocas làm vườn,
            thánh Antonin làm thợ nề,
            thánh Nicostrate làm nghề đục đá,...

 

43. Sống thánh mới chữa trị được những làn sóng vô đạo và sa đọa

Lúc bấy giờ, đầu thế kỷ XVI, nhà quý tộc cai quản miền Alcantara, Tây Ban Nha, hỏi thánh Phêrô Alcantara phương pháp làm sao để miền Alcanatara nầy khỏi bị tràn ngập bởi những làn sóng vô đạo và sa đọa. Thánh nhân thản nhiên trả lời:
- "Phương pháp thật là đơn sơ, đó là ông với tôi, cả hai chúng ta hãy trở nên những vị thánh."

44. Sống thánh thế nào?
Khi nghe thánh Phanxicô Salêsiô khuyên giáo dân hãy sống thánh giữa đời, một giáo dân hỏi:
- "Thưa Đức Cha, chúng con ở đời, phải trang điểm, phải đi ăn tiệc, phải ăn mặc cho tử tế, thì làm thế nào mà nên thánh được?".
Thánh nhân vui vẻ trả lời:
- "Trang điểm, tiệc tùng, sắc đẹp, những điều nầy, tự chúng, là tốt; chỉ có những gì chúng ta lạm dụng, mới thành xấu, thành tội. Nét đặc biệt của người tín hữu chúng ta không phải là sự thui thủi cô độc một mình, sự yếm thế bi quan, hay là những điều kỳ dị trong cách ăn nét ở. Nét đặc biệt của người tín hữu chúng ta là sự thánh thiện, nghĩa là sự bằng an trong tâm hồn, sự vui lòng vâng theo thánh ý Chúa định, sự chịu đựng anh dũng các cơn đau khổ hồn xác, mĩm cười dẫu trong lúc chua xót, vui lòng làm việc bổn phận tử tế, luôn yêu thương mọi người và vui sống trong lời cầu nguyện ".

45. Thời gian ở trong tay Chúa
Người giàu có kia sắp chết, cho mời bác sĩ danh tiếng nhất trên thế giới đến gặp và nói:
- "Bác sĩ tìm cách cho tôi sống thêm một thời gian nữa, bác sĩ muốn trả bao nhiêu, tôi cũng trả."
Vị bác sĩ nầy khiêm nhượng trả lời:
- "Ông muốn sống thêm một thời gian nữa, ông phải chắp tay cầu xin Chúa vì thời gian ở trong tay Chúa. Về điều nầy, bác sĩ chúng tôi bất lực."

46. Chết quá thình lình, dọn mình có kịp không ?
Thánh Tôma More khuyên bạn mình đừng văng tục... Khi hai người đang đi ngựa qua cầu, ông bạn nầy bị ngựa trở chứng, hất lên. Thánh Tôma More thấy ông bạn bị ngựa hất xuống nước và nghe ông nầy văng tục trước khi chết.
Đại tướng Moltke, tại Berlin, trong một cuộc đưa đám, sau khi đọc bài điếu văn, liền ngã xuống chết ngay tại chổ.
Đức Cha Trương Cao Đại, tại Madrid, chết trong lúc giảng lễ truyền chức linh mục ngày 29 tháng 6 năm 1969.
Tại Rôma, vừa lên ngôi Giáo-Hoàng được ba mươi ngày, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô I nằm chết trên giường mà không ai biết : sáng ấy, không thấy ngài vào làm lễ, và khi vào phòng ngai, người ta thấy đènvẫn đỏ, nhưng Đức Thánh Cha đã chết từ lâu, trên ngực đang có cuốn sách Gương Phước.

47. Phương thế linh diệu để thắng các cơn cám dỗ
Một thanh niên trụy lạc đến gặp cha Philiphê Nêri:
- "Lạy Cha, con muốn sửa mình mà không thể được. Các cơn cám dỗ mạnh quá, mạnh hơn con nhiều."
Thánh Philiphê khuyên:
- "Con hãy can đảm. Mỗi ngày, con đọc một kinh Lạy Nữ Vương, và suy đến cái chết. Con tưởng tượng khi con chết, thân xác nằm dưới đất, đôi mắt con lúc đó thối tha, xác thịt con lúc đó hôi hám, lỗ miệng con lúc đó đầy sâu bọ, và con nói: "Vì những cái như thế nầy mà tôi mất thiên đàng sao?"
Thanh niên nầy vâng lời. Chàng thắng được cơn cám dỗ một lần, hai lần, nhiều lần, và suốt đời nhờ thực hành lời khuyên vàng ngọc đó.

48. Các thánh chết vui vẻ
Đối với các thánh, chết là ngày sinh, ngày vui mừng, dies natalis.
Các bổn đạo đầu tiên cũng gọi như vậy.
Thánh Phaolô đã viết: "Đối với tôi, chết là được cuộc" (Pl 1,21); "Tôi ước ao chết để được kết hiệp với Đức Kitô" (Pl 1,23).
Thánh Inhaxiô thành Antiokia viết thư cho bổn đạo Rôma vài ngày trước khi chịu tử đạo: "Bao giờ Cha sẽ có hạn phúc được các thú dữ phanh thây ?.....Cha sẳn sàng tất cả, miễn là Cha được hưởng Chúa Giêsu Kitô."
Thánh nữ tử đạo Anê, khi bị dẫn ra pháp trường, xin phép được đội một mũ triều thiên để nói lên niềm vui sướng.
Thánh Phanxicô Khó Khăn, khi sắp chết, hát vang, và mời tất cả các tu sĩ cùng hát theo. Các thầy bỡ ngỡ : "Gần chết thì không được hát, nhưng phải khóc."
Thánh nhân chảy nước mắt và nói:
- "Cha không thể không hát được khi nghĩ rằng chút nữa Cha sẽ gặp được Chúa".
Thánh Luy Gôndaga tin cho mẹ biết mình sắp chết: "Mẹ hãy vui mừng với con vì cái tin hạnh phúc nầy." Vị thánh nầy để một sọ người chết trên bàn làm việc để luôn suy gẫm đến sự chết.
Chị thánh Têrêxa Hài-Đồng. khi được linh mục hỏi: "Con sắp chết, con nghĩ sao?", liền trả lời: "Thưa Cha, con cần phải nhẫn nại để sống...; còn đối với cái chết, con chỉ thấy lòng vui mừng ".

49. Giờ chết, giờ hấp hối, là giờ nguy hiểm nhất
Đọc truyện các thánh, chúng ta không lạ gì khi thấy các ngài, trong giờ hấp hối, chân đá, tay múa như để tự vệ. Và có khi chúng ta nghe các ngài đối thoại với một kẻ vô hình, phi bác những lời tố cáo, khuôn mặt các ngài thoáng buồn, nước mắt từ từ lăn ra, rồi chúng ta thấy các ngài lặng đi lần lần, rồi bỗng các ngài mĩm cười và tắt thở. Đó là cuộc chiến đấu gay go cuối cùng của một số các thánh với ma quỷ !

51. Đến đây để nghỉ một ngày, nhưng rồi lại nằm xuống đây mãi mãi
Tại Côte d'Azur, một bãi biển nghỉ mát bên Pháp, có một tấm bia bên vệ đường ghi câu sau đây để cảnh cáo các tai nạn giao thông: "Đây là nơi an nghỉ của một kẻ đến đây một ngày, nhưng rồi lại nằm xuống đây mãi mãi".

50. Hãy cho tôi đủ tiền!
            Trong cơn bắt đạo, một thanh niên 17 tuổi bị đem ra xử. Quan án thương muốn cứu:
            - "Đạp Cây Thánh Giá, bỏ Đạo đi, ta sẽ cho một nén bạc".
            - "Bẩm quan, ít quá!"
            - "Một nén vàng!"
            - "Bẩm quan chưa đủ!"
            - "Chưa đủ à?"
            - "Bẩm quan, nếu quan muốn tôi đạp Cây Thánh Giá để bỏ Đạo, xin quan hãy cho tôi một số tiền thật lớn, đủ để tôi mua lấy một linh hồn khác, nhưng linh hồn tôi thì vô giá".
            Và người thanh niên nầy vui vẻ chịu chết vì Chúa.

            Một đêm Giáng Sinh kia, thánh Hiêrônimô được Chúa Giêsu Hài Đồng hiện ra hỏi có quà gì dâng cho Ngài không.
Thánh nhân rất ngạc nhiên:
            - "Con đã dâng cho Chúa hết rồi, không có gì mà con không dâng cho Chúa. Chúa biết rồi!".
            Chúa Giêsu Hài Đồng nói lại một câu làm cho thánh Hiêrônimô òa khóc:
            "Ta muốn con dâng tội lỗi của con cho Ta để Ta có thể tha thứ cho con. Ta rất mong điều đó."

52. Chạy theo của cải để được bằng an?
            Polycrate, vua Samo, truyền đem một số tiền rất lớn để thưởng một nhà hiền triết. Ông nầy mừng quá, tự nghĩ: "Ta nên bỏ nghề dạy học bạc bẽo nầy để đi buôn cho giàu có."
            Từ đó, ông bắt đầu kinh doanh, xuôi ngược, tần tảo hết chợ nầy qua nơi khác. Ông tính toan đủ mọi kế hoạch. Đầu óc ông luôn luôn quay cuồng và không bao giờ ông ngủ được yên. Ông nói:'
            - "Từ khi có đống tiền vào nhà, ta không có sự bằng an."
            Ông liền đem tiền trả lại cho đức vua. Ông tâu:
            - "Tâu bệ hạ, hạ thần xin trả lại đoóng tiền nầy. hạ thần không muốn giữu lại cái của nợ làm cho hạ thần không còn ngủ yên được."

            Trong cuộc Cách Mạng Pháp, một tên khát máu đã hạ sát nhiều linh mục. khi đau nặng sắp chết, ông ta thề sẽ giết bất cứ một linh mục nào đến gần ông.
            Cha sở nghe vậy, nhưng không sợ. Ngài đến.
            - "Mau đem súng ra đây!'"
            - "Ông lấy súng để giết tôi à? Tình yêu Chúa mà tôi đem đến cho ông là khí giới mạnh hơn khẩu súng của ông nhiều.'"
            - "Súng đâu? Súng đâu?"
            Thấy người nhà không đưa súng, ông trợn mắt, giăng tay về phía cha sở:
            - "Mầy đứng đến gần đây. Cánh tay nầy đã bóp chết 12 đứa linh mục như mầy."
            Cha sở cười. Ngài vén ngực ra:
            - "Ông lầm. Ông mới giết có 11 linh mục. Linh mục thứ mười hai đang còn sống, là tôi đây. Chúa muốn tôi sống để cứu ông."
            Tên sát nhân nghẹn lời. Cha sở quỳ xuống, ôm ông ta và đem con chiên lạc dữ tợn nầy về cho Chúa.

            Ngày kia, đang giảng đạo, thánh Phanxicô Xaviê thấy bạn mình bị người ta nhổ nước miếng vào mặt. Ngài làm gì? Ngài rút một cái khăn trong bọc ra, lau sạch cho bạn, rồi tiếp tục giảng đạo, chứ không nói một lời gì phẫn uất.
            Một học giả thấy vậy, liền nói:
            - "Họ giảng Đức Giêsu và họ chịu các điều sĩ nhục như vậy. Chắc là họ hơn người và Đạo họ rao giảng, là thật."
            Và người đó xin trở lại.
            Gương tốt làm cho người ngoại trở lại hơn một vạn bài giảng hay.

            Cho dù có những kẻ như Nietzche tuyên bố: "Đã giết được Chúa rồi!", thì chúng ta vẫn tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa toàn năng, đời đời bất diệt, đâu bị giết chết dễ dàng bởi tay một kẻ thế trần; mà nếu Ngài để cho người ta giết Ngài, là để Ngài tung mồ sống lại, một việc vô tiền khoáng hậu, không ai làm được từ xưa đến nay, và từ nay cho đến tận thế, ngoại trừ Con Thiên Chúa xuống thế làm người cứu chuộc nhân loại.
            Cho dù có những kẻ như Camus nhận xét: "Quanh tôi, tôi thấy cái gì cũng có mặt: chết, nghèo, bệnh, dịch tả. Chỉ có Chúa là vắng mặt", thì chúng ta vẫn tin mãnh liệt rằng: Chúa có mặt khắp nơi, Chúa an bài mọi sự, Chúa quan phòng tất cả.

            Một người kia không tin Chúa. Ông lên miền Bắc nước Anh để diễn thuyết bài bác Đạo Công giáo.
Sau diễn thuyết, có cuộc bàn luận. Một bà lớn tuổi nói:
            - "Tôi góa chồng đã từ lâu. Nhờ tin vào Lời Chúa, tôi đã cố gắng nuôi sống và dạy dỗ con cái. Giờ đây, con cái tôi đứa nào cũng đã lớn khôn, đã nên người, biết sống đạo đức. Còn tôi thì đã già, thế nào tôi cũng chết trong một ngày gần đây. Nhưng hiện nay, tâm hồn tôi rất bằng an vui vẻ vì đã biết sống theo Lời Chúa. Đó là những ích lợi vô giá mà tôi đã được nhờ tin vào Lời Chúa. Còn ông, ông nói ông không tin vào Lời Chúa, vậy xin ông hãy kể cho tôi nghe nhờ vậy mà ông đã được những ích lợi nào?"
            Diễn giả đánh trống lảng:
            - "Điều nầy, tôi không thể trả lời cho bà được".
            Nhưng bà già vẫn một mực đặt câu hỏi:
            - "Tôi đã cho ông biết những ích lợi tôi được khi tôi tin vào Lời Chúa. Còn ông, ông hãy cho tôi biết ông đã được những ích lợi nào khi ông không tin vào Lời Chúa?"
            Diễn giả nầy, kẻ đã phi bác Lời Chúa, lúng túng, ấp úng và bị khán giả cười rộ lên vì không trả lời được câu hỏi của một bà già đã biết tin và sống theo Lời Chúa.

            Trước mặt giáo dân trong giáo xứ mình, linh mục quản xứ nổi bật vì đức trinh khiết, vì đức khó nghèo, và nhất là vì đức vâng phục đối với Đấng Bản Quyền của mình.
            Đức tuân phục của linh mục đem lại nhiều ích lợi cho Giáo Hội, và ngược lại, sự bất tuân của linh mục gây cho Giáo Hội nhiều thiệt hại.
Khi còn tuân phục Giáo Hội, khi còn trung thành với Giáo Hội, linh mục Lammenais hứng khởi viết về Giáo-Hội là Mẹ của mình ở trên trần gian, cũng như Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ của mình ở trên thiên đàng như sau:
            - "Tôi có Hai Mẹ, một Mẹ dưới trần gian, một Mẹ trên thiên đàng".
            Nhưng khi không còn tuân phục Giáo Hội nữa, linh mục nầy phản lại Giáo Hội và viết trong tờ trối một câu rùng rợn: "Khi chôn ta, không được đọc một kinh Kính Mừng nào trên mộ ta ".

            Một vị tu sĩ đạo đức kia gặp một số vị tu sĩ đang được sai đến thành Albi để giảng đạo cho bè rối trong thành nầy. Ông có lời khuyên các tu sĩ truyền giáo nầy như sau:
            - "Anh em hãy ra đi trong khiêm nhượng, bắt chước gương Thầy chí ái của chúng ta. Anh em hãy giảng dạy, hãy hoạt động, hãy đi chân không, đừng mang vàng mang bạc, hãy bắt chước đời sống của các Tông Đồ trong mọi sự ".

            Khi vua ôtô nước Mỹ, Henry Ford, bất lực vì thấy máy điện của hãng mình cứ bị trục trặc hoài, liền mời kỹ sư người Đức, ông Meisser, đến sửa chữa.
            Sau hai ngày sửa chữa cho máy điện chạy lại ngon lành, ông Meisser xin ông Ford trả một đôla cho công của ông đi mượn cái thang, trèo lên đầu máy, chặt bớt 16 vòng trong cuộn dây cảm ứng, nhưng hãy trả cho ông 9.999 đôla về cái công ông suy nghĩ, tìm tòi trong hai ngày để đi đến biện pháp sửa chữa nầy.
            Tìm tòi, suy nghĩ, vạch đường lối làm việc cho hữu hiệu, đó là những công việc rất quan trọng trong đời sống của mỗi một người chúng ta.

60. Nhưng anh cũng thuộc về Chúa của tôi
            Gặp một người hấp hối sắp chết, cha Duffy cúi xuống tìm cách giúp đỡ. Biết cha là người công giáo, người hấp hối thì thào lắc đầu:
            - "Tôi không thuộc về Giáo Hội công giáo của cha."
            Cha Dufy nhẹ nhàng nói :
            - " Nhưng anh cũng thuộc về Chúa của tôi."

            Trong suốt ba trăm năm bị bắt Đạo, trải qua sáu triều vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn một trăm ngàn Đấng Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách, trong số nầy, có năm mươi tám giám mục và linh mục thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà lan, Italia, mười lăm linh mục Việt Nam, ba trăm bốn mươi Thầy Giảng, hai trăm bảy mươi nữ tu Dòng Mến Thánh Giá, chín mươi chín ngàn một trăm tám mươi hai giáo dân.
            Đó là chưa kể con số rất đông các tín hữu bị chết mất tích trong ácc cuộc Bắt Đạo vì phải bị lưu đầy, vì phải trốn tránh trên rừng sâu, dưới biển cả.
            Đó là cũng chưa kể rất nhiều tín hữu phải chết do cuộc Phân Sáp bốn trăm ngàn người công giáo dưới triều Vua Tự Đức.
            Đó còn là chưa kể con số hơn mười mấy vạn người công giáo bị giết chết khi Phong trào Văn Thân nổi lên.
            Như thế, con số các Vị Tử Đạo của Giáo Hội Việt Nam, trong ba trăm năm bị bắt đạo, phải tính lên đến ba trăm ngàn người trong vòng ba trăm năm.
            Nếu tính theo tỷ lệ, thì trong ba trăm năm bắt Đạo, cứ một trăm năm thì có một trăm ngàn vị Tử Đạo. Và theo tỷ lệ nầy, cứ một năm, có một ngàn vị Tử Đạo, và đổ đồng, cứ mỗi ngày, có hơn hai vị Tử Đạo của Giáo Hội Việt Nam.
            Cảm phục tấm lòng anh dũng phi thường của các vị Tử Đạo Việt Nam và của các vị Tử Đạo người ngoại quốc tại Việt Nam, các Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, Piô X và Piô XII đã nâng 117 vị Tử Đạo tại Việt Nam lên hàng Á Thánh, và Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã nâng lên hàng Hiển Thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988.

            Để trung thành với Chúa, các ngài đã vứt bỏ nhà cửa ruộng đất, bồng bế con cái cháu chắt chạy trốn lên nơi rừng sâu nước độc, sống cô quạnh hiểm nguy.
            Để trung thành với Chúa, các ngài đã sống bập bềnh trên những con thuyền tạm bợ, lẩn lút dọc bờ sông ven biển, nhịn đói nhịn khát, bơ vơ không biết nương tựa vào đâu.
            Để trung thành với Chúa, các ngài đã đành lòng chịu tịch thu gia sản, chịu cảnh phân sáp dã man, cha mẹ phải lìa xa con cái, vợ chồng không được sum họp với nhau, gia đình phải tan nát đau thương.
            Để trung thành với Chúa, các ngài đã vui lòng chịu những hình khổ bạo tàn độc ác như bị cạo trọc đầu, bị kẹp các ngón tay cho ra máu, bị chặt đứt các ngón tay rồi bị thả về tàn tật, bị vấn dẻ vào đầu các ngón tay để bị đốt cháy, bị đánh bách trượng, bị xẻo bá đao, bị cắt hai tay, bị chặt chân chặt tay, bị chém đầu, bị thắt cổ, bị khắc chữ Tả Đạo vào má, bị voi chà, bị treo ngược vào cột đê xé xác ra làm sáu mãnh, bị gươm đâm thâu hông, bị thả vào vạc dầu sôi, bị mang gông phơi nắng nhiều ngày, bị giam chết đói chết khát, v.v...

            Kế hoạch Phân Sáp được Vua Tự Đức cho thi hành vào năm 1851 và 1856.
            Do sự thi hành kế hoạch Phân Sáp nầy mà gần bốn trăm ngàn giáo dân phải bị đi phân sáp, từ năm mươi ngàn đến sáu mươi ngàn giáo dân phải chêt nơi phân sáp, một trăm làng công giáo bị tàn phá bình địa, hai ngàn Họ Đạo bị tịch thu tài sản ruộng đất, một trăm mười lăm linh mục Việt Nam và mười giáo sĩ ngoại quốc bị giết, 80 Dòng Mến Thánh Giá bị phá tan, hai ngàn nữ tu Mến Thánh Giá phải tan tác, một trăm nữ tu Mến Thánh Giá chết vì Đạo.
            Kế hoạch Phân Sáp gồm bốn mặt: mặt thứ nhất, không cho người công giáo ở trong làng công giáo của mình, nhưng phải đến ở trong các làng bên lương; mặt thứ hai, mỗi người công giáo phải bị năm người lương canh giữ cẩn mật; mặt thứ ba, các làng công giáo bị phá huỷ, của cải ruộng đất của người công giáo bị tịch thu và giao vào tay những người bên lương, những người nầy sử dụng và nộp thuế lại cho Nhà Nước; mặt thứ bốn, không cho người đàn ông công giáo ở một nơi với người đàn bà công giáo, không cho vợ chồng công giáo ở với nhau, mỗi người phải đi ở một nơi xa nhau, con cái của người công giáo thì phải để cho gia đình người lương nuôi.
Đây là một kế hoạch rất sâu độc, nhằm tiêu diệt Giáo Hội Việt Nam tận gốc rễ. Nhưng Bàn tay Chúa dẫn đưa lạ lùng: các triều đại Nhà Nguyễn không còn nữa, mà Giáo Hội Việt Nam, hiện nay, vẫn sống mạnh và vươn lên.

            - nông dân (Lôrensô Ngôn, Đa Minh Ninh, Anrê Tường, Đa Minh Nhi),
            - ngư phủ (Đinh văn Dũng, Đinh văn Thuần, Đa Minh Toại, Đa Minh Huyên),
            - thợ mộc (Phêrô Đa),
            - làm Trùm Họ, làm Câu Xứ (Giuse Túc, Phaolô Hạnh, An-rê Kim Thông, Nguyễn Văn lựu),
            - người vợ và người mẹ có sáu đứa con ( Anê Lê Thị Thành),
            - quân đội (Phan Viết Huy, Bùi Đức Thể, Phaolô Tống Viết Bường, Phanxicô Xavie Trung, thánh Giuse Lê Đăng Thị),
            - quan trong triêu nhà vua (Micae Hồ Đình Hy),
            - linh mục (An rê Dũng Lạc, Lê Bảo Tịnh, Nguyễn Bá Tuần, Nguyễn Văn Triệu, Đoạn Trinh Hoan),
            - chủng sinh (Toma Thiện),
            - v,v...

            - Thánh Mỹ thưa với quan Tổng đốc: "Tôi đã suy xét kỹ, và tin nhận đạo Thiên Chúa là đạo thật, nên tôi không chối bỏ bao giờ."
            - Thánh Phêrô Cao cầu nguyện : "Xin cho con chịu đau khổ vì danh Đức Ki-tô, được đón nhận ngành lá tử đạo về tới bến thiên đàng."
            - Thánh Kim Thông thưa với quan tỉnh : "Thánh giá tôi kính thờ, tôi giẫm lên sao được."
            - Thánh Phêrô Truật phát biểu: "Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý, để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời."
            - Thánh Emmanuen Phụng để lại di chúc tinh thần: "Con ơi, hãy nhận lấy kỷ vật Cha trao lại: Đây là ảnh Đức Kitô, Chúa chúng ta, ảnh nầy quí hơn vàng bạc bội phần."
            - Thánh Phêrô Quí dõng dạc: "Dù trăng trói, gông cùm tù rạc/ Chén ngục hình xiềng tỏa chi nề / Miễn vui lòng cam chịu một bề / Cho trọn đạo trung thần hiếu tử."
            - Thánh Phaolô Tịnh can đảm thưa với quan án: "Thân xác tôi ở trong tay quan, quan muốn làm khổ thế nào tùy ý. Nhưng linh hồn là của Chúa, không có gì khiến tôi hy sinh nó được."
            - Thánh Phaolô Khoan hát lên lời nguyện hiến tế cuộc đời: "Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa là Chúa Cả trời đất, chúng con xin dâng mạng sống cho Ngài."

            Caligula (bị bóp cổ chết), Nêron (bị đâm dao vào ngực), Đômixianô (bị người thân ám sát), Cômêđô (bị lật đổ), Valêrianô (bị ngoại quốc giết), Điôclêxianô (bị truất ngôi và chết đói), Giulianô (bị tên bắn chết giữa trận mạc), ...

67. "Nếu điều đó có ích cho phần rỗi của con".
            Xưa có một người mù lúc nào cũng kết thúc lời cầu nguyện bằng câu:"Nếu điều đó có ích cho phần rỗi của con".
            Một hôm, người ta dẫn ông đến mồ của Thánh Thomas thành Cantobery để xin Thánh nhân làm phép lạ chữa lành đôi mắt.
            Ông được nhận lời: đôi mắt vụt sáng lên ngay. Nhưng sau những giây phút vui mừng sung sướng, ông chợt nhớ mình quên kết thúc lời cầu nguyện bằng câu thường lệ:"Nếu điều có có ích lợi cho phần rỗi của con", nên ông vội vàng trở lại trước phần mộ của thánh Thomas, xin được hóa mù lại, nếu điều đó có ích lợi cho phần rỗi của ông hơn là được sáng mắt.
            Đôi mắt ông lại hóa nên mù như trước, nhưng đời ông từ đó trở nên sáng suốt lạ lùng: ông biết luôn luôn sống theo thánh ý Chúa!

            Đồng hồ tháp nhà thờ chánh tòa Leipzip ở Đức có khắc chữ: Mors certa, hora incerta. (Chết thì chắc, nhưng giờ chết thì không chắc.)

            Nguyên tắc thứ nhất: Hãy lấy cho được cảm tình của người anh em trước khi nghĩ đến cách làm cho người anh em nầy trở lại.
Nguyên tắc thứ hai: Trước khi giảng dạy cho ai, hãy yêu mến họ.

70. Xin vâng theo thánh ý Chúa là khoẻ nhất!
            Một người cha gả hai đứa con gái cho hai người đàn ông kia, một người làm ruộng, một người đi buôn.
            Khi đến thăm gia đình người con gái lấy chồng làm ruộng, thì hai vợ chồng gia đình làm ruộng nầy xin cha cầu nguyện cho họ được trời mưa.
            Khi đến thăm gia đình người con gái lấy chồng đi buôn, thì hai vợ chồng gia đình đi buôn nầy xin cha cầu nguyện cho họ được trời nắng.
            Người cha không biết sao mà nhận lời, nên kết luận: "Cha chỉ xin cho các con biết vâng theo thánh ý Chúa là khoẻ nhất!"

            Một kẻ kiêu ngạo kia quả quyết: "Chúng ta đã tiêu diệt được tất cả các vua trên mặt đất nầy rồi. Giờ đây, chúng ta hãy tiêu diệt Chúa là vua trên trời ".
            Thế là có nhiều kẻ ùa nhau chủ trương tiêu diệt Thiên Chúa, trục xuất Thiên Chúa ra khỏi các linh hồn, ra khỏi các gia đình, ra khỏi xã hội, ra khỏi quốc gia. Nhưng họ vẫn thất bại. Vì sao? Vì trong khi họ thay nhau chết, nằm thúi tha và bị tan rã trong mồ, thì Chúa Giêsu Kitô, Con của Thiên Chúa, đã tung mồ sống lại, vẫn hằng sống, và ngôi báu của Ngài vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay, và cho đến tận thế.
            Để phản lại chủ trương vô thần nầy, ngày 11 tháng 12 năm 1925, Đức Giáo Hoàng Piô Thứ Mười Một đã lập lễ kính CHÚA GIÊSU KITÔ VUA.
            Đức Giáo Hoàng muốn nhắc nhở cho mọi người biết rằng: Chúa Giêsu Kitô, Con của Thiên Chúa, và là Thiên Chúa thật, chính Ngài là Vua vũ trụ, Vua muôn loài, không những là Vua của từng cá nhân, của từng gia đình, nhưng còn là Vua của tất cả mọi người, của tất cả mọi dân tộc. Vương quyền của Ngài chi phối tất cả trần gian, mặc dầu vương quyền nầy là linh thiêng và không lệ thuộc vào gian trần nầy.

            - Vua dẹp loạn bằng cái chết của mình: "Máu Thầy đổ ra để cho muôn người được tha tội" (Mt 26,28),
            - Vua rất khiêm nhượng: "Hãy học với tôi vì tôi có lòng khiêm nhượng" (Mt 12,29),
            - Vua rất khó nghèo: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu" (Mt 8,20),
            - Vua rất bình dân: "Nhiều người thu thuế và người tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ " (Mt 9,10),

            - Vua đem lại bình an từ trên tròi xuống cho loài người: "Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con " (Ga 14,27).

            Quân dữ bắt Chúa Giêsu ngồi trên một bệ đá, giả đò quỳ lạy ông vua lạ lùng nầy.
            Quân dữ khoác cho Chúa Giêsu một chiếc áo choàng đỏ, xỉ vả, khạc nhổ, dày xéo ông vua dại dột nầy đang thinh lặng không nói ra một lời.
            Quân dữ bắt Chúa Giêsu đội một mão gai để chỉ đây là một vì vua đau khổ : vua mà bị trói, bị đánh đòn, bị kéo lê từ tòa án nầy đến tòa án khác, bị đày lên Núi Sọ, bị đóng đinh chết trên thập giá.
            Quân dữ cho Chúa Giêsu cầm một cây gậy nứa để nhạo báng một ông vua bất lực, khó nghèo, không có thần dân đến giúp đỡ, không có quân đội đến tiếp cứu.
            Quân dữ treo Chúa Giêsu trên thập giá, có khắc chữ: "Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái", rồi đứng dưới mà nhạo báng ông vua lạ lùng nầy: vua dại dột, vua đau khổ, vua nhục nhã.
            Nhưng những lời nhạo báng nầy lại là sự thật: Chúa Giêsu Kitô, chính là Vua !
            Ba ngày sau khi chết, Chúa Giêsu tung mồ, sống lại sáng láng, thắng trận ma quỷ, thắng trận tội lỗi, đè bẹp sự chết, và lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha, cai trị muôn loài, muôn vật. Và thánh Phaolô cung kính nói về Chúa Giêsu Kitô : "Khi vừa nghe Danh Thánh Giêsu, cả trên trời lẫn dưới đất, và ngay trong nơi âm phủ, mọi vật đều phải bái quỳ " (Pl 2,10).

74. Kẻ thù của Vua Giêsu
            Có nhiều kẻ khiếp sợ ngôi vua của Chúa Giêsu. Và họ tìm đủ cách để ngăn trở Nước của Chúa Giêsu lập.
            Trước hết, là ma quỷ. Ma quỷ là kẻ thù không đội trời chung của Chúa Giêsu vì chúng muốn một mình thống trị thế gian và lôi kéo mọi người xuống hỏa ngục để làm nô lệ chúng trong sự khốn nạn đời đời.
            Sau ma quỷ, là những kẻ nghịch Đạo, chống Đạo, lơ Đạo, bỏ Đạo, chối bỏ Thiên Chúa, vì họ chỉ muốn xây dựng một nước trần gian mà không có Chúa.

            Cha Jandel, dòng Đa-Minh tại Lyon, được một người thách đố đem Thánh Giá đến đuổi quỷ trong cuộc họp hằng đêm của những kẻ bán linh hồn cho quỷ vì ông nghe cha giảng rằng: "Sức mạnh Thánh Giá là vô địch".
            Thấy mình cần phải suy nghĩ nhiều và cần phải cầu nguyện nhiều đối với lời thách đố nầy, cha xin đợi ba ngày để trả lời.
            Cha đệ trình lời thách đố nầy lên Đức Hồng Y De Bonald ở Lyon để xin ý kiến. Đức Hồng Y họp bàn với với các nhà thần học trong giáo phận, và cuối cùng, chấp thuận cho phép cha Jandel đi đuổi quỷ.
            Cha mặc đồ thường phục nhưng dấu cây Thánh Giá trong ngực.
            Khi vào nhà họp ban tối, cha thấy quỷ hiện ra rõ ràng. Cha cầm Thánh Giá đưa lên làm một hình Thánh Giá. Một tiếng nổ lớn vang lên. Điện tắt. Quỷ biên mất. Và sau đó, cha kể, người thách thức đã từ bỏ ma quỷ để tin theo Chúa Giêsu.

            Trong trận chiến tranh Pháp-Phổ (1870), khi vây hãm thành Strasbourg, một số lính Đức bị thương và được đưa vào một bệnh viện dã chiến. Nữ tu Judith săn sóc toán binh sĩ bị thương nầy.

Chị nêu cao gương tận tụy hy sinh đối với họ. Toán binh sĩ nầy cảm phục chị nữ tu nầy, ngay cả kẻ đanh đá nhất.
            Ngày kia, một binh sĩ trong toán nầy kể một câu chuyện tục tằn thô lỗ. Các binh sĩ khác thích thú và cười ồ lên rộn ràng. Bỗng cửa phòng mở ra. Nữ tu Judith xuất hiện. Mọi người im lặng. Nữ tu đau đớn nhìn từng người một, rồi lặng lẽ cầm lấy Thánh Giá mang trên ngực, đưa lên hôn Chúa với nước mắt lăn xuống trên gò má. Rồi, nữ tu lặng lẽ ra khỏi phòng, đóng cửa lại, không nói một lời nào.
            Thật giống như một cuộc hiện ra. Toàn phòng im lặng một lúc lâu. Sau đó, một tiếng hối hận nỗi lên: "Chúng ta kể chuyện tục tĩu, còn nữ tu thì chảy nước mắt hôn Chúa Giêsu trên Thánh Giá để xin tha tội cho chúng ta." Và kể từ đó, đám lính nầy không còn kể chuyện gì tục tĩu cho nhau nghe nữa.
            Nhiều năm sau, người lính nói lên câu bênh vực nữ tu nầy, thú nhận: "Mỗi lần tôi bị cám dỗ kể một câu chuyện gì tục tĩu, tôi liền nhớ đến nữ tu Judith và Cây Thánh Giá, và tôi không còn kể chuyện gì tục tĩu nữa."

            Với con mắt đức tin, chúng ta thấy hiện tại đầy tốt đẹp, đầy hấp dẫn vì mọi cái đang xảy đến, đều do Chúa đầy yêu thương an bài sắp đặt: tất cả đều là hồng ân của Chúa ban, "Tout est grâce!".
            Một họa sĩ kia đi nghĩa vụ quân sự. Anh phụ trách một trục giao thông trên đường xe lửa. Ngày nào, anh họa sĩ nầy cũng ngồi trên đường rầy, say mê nhìn cảnh vật xung quanh. Những em chăn trâu chăn bò gần đó thường đến hỏi anh: "Anh thấy gì mà say mê đến thế! Chúng em chỉ thấy toàn trâu, toàn bò, toàn cỏ mà thôi".
            Họa sĩ trả lời: "Anh thấy cảnh vật trước mắt quá đẹp! "
            Mỗi người chúng ta hãy là họa sĩ đức tin để thấy rõ khuôn mặt đẹp đẽ của Chúa trong mọi sự và trong mọi cái đang ở trước mặt mình, đang xảy ra xung quanh mình, đang xảy ra trong cuộc đời mình.

            Cha Primo Reina kể lại biến cố cảm động nầy.
            Sau một thời gian truyền giáo tại Bắc Cực trong hoàn cảnh quá lạnh lẽo và cô đơn, một số linh mục thừa sai đệ trình lên Đức Thánh Cha lời thỉnh nguyện sau đây: "Kính tâu Đức Thánh Cha, chúng con đang truyền giáo cho dân Étkimô ở Bắc Cực. Điều kiện thời tiết ở đây rất khắc nghiệt. Nhiều lần, chúng con bắt buộc phải đi hàng trăm cây số trên băng tuyết mà không tìm được một thôn xóm, một nhà nguyện hay một nơi trú ẩn để tạm nghỉ thể xác hoặc tinh thần. Có anh em trong chúng con nhiều khi đi lạc giữa sa mạc tuyết mênh mông, bị bão tuyết vùi dập, sống trong đêm tối Bắc Cực dài hàng mấy tháng, không hy vọng gì được cứu thoát. Kính tâu Đức Thánh Cha, để đủ sức chống chọi lại những hoàn cảnh khắc nghiệt trên đây, chúng con xin Đức Thánh Cha cho phép chúng con mang trên ngực một hộp nhỏ đựng Mình Thánh Chúa để Chúa Giêsu Thánh Thể nuôi dưỡng linh hồn chúng con hằng ngày và ban sức mạnh cho chúng con".
            Đức Thánh Cha rất cảm động và ban phép đặc biệt đó cho các cha thừa sai Bắc Cực.
            Kể từ ngày đó, các Cha Trắng, tên gọi của các linh mục thừa sai Bắc Cực, mang nơi ngực một hộp nhỏ đựng Chúa Giêsu Thánh Thể, người Bạn Độc Nhất của họ giữa sa mạc tuyết lạnh mênh mông.

            Thấy một cậu bé vừa đói vừa lạnh run, đang ngồi ăn xin nơi chân cầu, một người bộ hành liền nghĩ : «Sao Chúa không làm gì để giúp cậu bé nầy nhỉ !" Tức thì ông ta nghe tiếng Chuá phán trong lòng: «Ta có làm rồi !" Người bộ hành thắc mắc: «Con có thấy Chúa làm gì đâu?" Và ông liền nghe tiếng Chúa phán : «Ta đã dựng nên con."
            Mỗi người chg ta phải là dụng cụ được Chúa dùng lo cho kẻ khác.

80. Trước khi chết, lấy máu viết hai chữ: "Tôi tin"!
Thánh Phêrô thành Verona đi về thàh Milano để giảng. Khi đi giữa đường, ngài bị một bọn nghịch đạo chạy ra đâm chém. Ngài ngã xuống đất, quằn quại gần chết, nhưng vẫn cố lấy ngón tay nhúng vào máu mình, viết trên mặt đất hai tiếng trước khi chết: "Tôi tin".

            Khi Đức Hổng Y Sarto vừa đắc cử lên ngôi Giáo Hoàng, một vị quan chức quan trọng hỏi ngài ngay:
            - "Tâu Đức Thánh Cha, chính trị của Đức Thánh Cha thế nào? ".
            Đức Tân Giáo Hoàng Piô X nầy, tay cầm chặt Cây Thánh-Giá nơi ngực, mắt nhìn lên trời, nói rõ từng tiếng một:
            - "Đây là Chính Trị của tôi! "
            Ý Đức Tân Giáo-Hoàng muốn nói: Thánh-Giá là đường lối Đức Tin của ngài, theo đường lối Đức Tin nầy, ngài dẫn đưa Giáo Hội về Nước Trời, chứ không phải theo đường lối chính trị nào.

            Trong một cuộc triều yết, thấy có một phóng viên nhà báo, Đuức Giáo Hoàng Piô X liền chúc lành cho cây viết của ông ta. Ngài nói:
            - "Ta chúc lành cho cây viết tượng trưng nghề nghiệp của con. Các vị tiền nhiệm của Ta đã chúc lành cho gươm giáo và vũ khí của các chiến sĩ kitô-hữu. Giờ đây, Ta rất hân hạnh chúc lành cho cây viết của một phóng viên kitô-hữu."

            Bà mẹ kia hối hả ra ga đón con đi lính bị bắt làm tù binh đã lâu, nay được tha về. gặp con. Bà nhận ra ngay, chạy đến đưa hai tay ra ôm lấy con, nhưng đưa con thì đưa hai tay ra quờ quạng. Bà mẹ nói to: "Con không thấy mẹ sao ?". Đứa con đưa hai tay ra ôm chặt lấy mẹ mình: " Mẹ ôi, hai con mắt con đã bị quân địch bắn đui rồi. Con không thấy mẹ, nhưng con vẫn biết có mẹ rõ ràng ".
            Chúa Giêsu nhấn mạnh: "Phúc cho những ai không thấy mà tin."
            Chúng ta không bao giờ thấy được Chúa Giêsu, không bao giờ hiểu được những chương trình Ngài thực hiện, không bao giờ biết trước được những kế hoạch Ngài sắp đặt. Dù vậy, chúng ta vẫn cảm biết có Chúa Giêsu đang hiện diện khắp nơi, cảm biết Ngài có mặt trong bất cứ lúc nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cảm biết Ngài luôn luôn đầy quyền năng, khôn ngoan và yêu thương chúng ta.
            Chính đức tin làm cho chúng ta cảm biết có Chúa Giêsu một cách đặc biệt như lời thố lộ của linh mục Foucauld: "Tôi ao ước được biết Chúa yêu tôi, nhưng Ngài không bao giờ chịu nói cho tôi biết điều ấy, và tôi chỉ còn một việc là tin mà thôi".

            Gương chị thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, trong một khoảng đời vắn vỏi, chú trọng về việc cầu nguyện truyền giáo và hy sinh truyền giáo cho kẻ có tội trở lại, cho kẻ ngoại được biết Chúa, được Giáo Hội tuyên phong là Bổn mạng các xứ truyền giáo, là một khích lệ lớn lao cho mọi người tín hữu chúng ta.
            Chị thánh nầy thường nói: " Một lời cầu nguyện, một sự hy sinh nhỏ tại chỗ, cũng có thể làm cho nhiều người ở xa trở lại".
            Bởi đó, trong giáo xứ, nếu có giáo dân nào biết thật sự cầu nguyện và hy sinh cho kẻ có tội được trở lại, cho kẻ ngoại đạo được biết Chúa, thì giáo dân đó có ích lợi cho linh mục quản xứ biết bao!

            Tháng bảy năm 1914, quân Đức xâm chiếm nước Bỉ.
            Khi quân xâm lăng tiến vào giáo xứ Pusay, một phát súng nổ, giết ngay một viên sĩ quan Đức.
            Quân Đức tức tối, lùa ra trước sân nhà thờ Pusay tất cả những nam nhân từ 15 tuổi trở lên, trong đó có linh mục quản xứ Pusay.
            Một lệnh rùng rợn được đưa ra: "Một kẻ trong các ngươi đây đã bắn chết viên sĩ quan của chúng ta. Cứ lần lượt mười người bị bắn chết để đền tội, cho đến khi nó ra tự thú và bị bắn chết."
            Tiếng các bà mẹ, tiếng các bà vợ, tiếng con cái khóc lóc vang lên thảm thiết.
            Bỗng ai nấy im lặng vì có bóng một người tiến ra.
            - "Chính tôi đã bắn. Hãy bắn tôi đi!"
            Người nầy bị bắn chết ngay tại chỗ.
            Đám đông được tha và giải tán. Họ ra về lặng lẽ và khóc thầm. Họ không bao giờ quên ơn linh mục quản xứ Pusay đã liều chết để cứu họ, cứu gia đình họ, cứu đoàn chiên của giáo xứ ngài !

            Năm 1868, tại Aquisgrana, trong một tuần đại phúc, linh mục kể câu chuyện sau đây làm xúc động mọi người nghe.
            "Cách đây không lâu, có một người mẹ nghèo sắp chết, nằm trên giường. Các con của bà tựu lại quanh giường, trừ ra một đứa con không có mặt. Nó đang bị giam tù năm năm vì một tội phạm. Mẹ nó, vì thế, đau khổ và mau chết. Nhiều người đã từng khuyên bảo nó hãy ăn năn hối cải, nhưng vô hiệu.
            Bà mẹ đạo đức nầy đang nằm trên giường chết, muốn khuyên nó một lần cuối cùng. Bà xin quan cai tù cho mình gặp được đứa con tù nhân trước khi chết. Quan cai tù bằng lòng, cho quân lính dẫn nó đến giường mẹ nó sắp chết. Mẹ nó không còn sức để nói ra lời nào với con, chỉ còn đủ sức nhìn con một cách sâu lắng rồi chết. Và liếc nhìn của người mẹ đã làm phép lạ!
            Đứa con bị dẫn đưa về lại nhà tù. Về đến nhà tù, nó quỳ gối xuống, nức nở khóc. Nó hết lòng ăn năn và xin xưng tội.
            Ơn Chúa làm cho nó nhiều hơn nữa: khi mãn tù, nó xin đi tu làm linh mục. Và đứa con đó, chính là tôi đây!"
            Và linh mục nầy khuyên thêm:
            - "Anh chị em thân mến, hãy can đảm, hãy cậy trông! Tội ta có lớn đến đâu mặc lòng, nhưng lòng tốt lành và lòng thương xót của Chúa còn lớn hơn tội của ta nhiều."
            Mọi người nghe đều bồi hồi xúc động. Trong số nầy, có nhiều kẻ thêm lòng trông cậy vào lượng từ bi của Chúa, và có nhiều kẻ ăn năn trở về với Chúa.

            Bà kia săn sóc chậu hoa quý, ngày đêm nâng niu chăm bón, ban ngày, đem để gần cửa sổ cho có ánh nắng mặt trời.
            Vì bận công việc, bà đi vắng vài ngày.
            Không có ai chăm sóc chậu hoa trong những ngày nầy, nên hoa quý của bà tàn héo xác xơ.
            Con cái của cha mẹ hiện nay trong hoàn cảnh Đất Nước chúng ta cũng vậy: chỉ cần một vài ngày không được cha mẹ quan tâm săn sóc dạy dỗ hướng dẫn, con cái sẽ hư thân mất nết khi nào không biết!

            Tại Phi Châu, một linh mục truyền giáo kia đang kể chuyện Chúa Giêsu sống cuộc đời tốt đẹp, dạy những lời hay ho.
            Khi ngài đang kể Chúa Giêsu bị quân dữ đóng đinh, viên tù trưởng bỗng đứng dậy nói lớn:
            - "Hãy đem Ngài xuống thập giá. Chính tôi là kẻ phải chịu đóng đinh trên đó".

            Hãy cầu nguyện vì cầu nguyện quá dễ: chỉ cần bật đèn lòng mình lên.
            Để cầu nguyện, chúng ta không cần phải thắp đèn dầu lên, không cần phải thắp đèn sáp lên, không cần phải bật đèn điện lên. Chúng ta chỉ cần thắp đèn bên trong lên, bật đèn lòng chúng ta lên với câu: "Lạy Chúa!".
            Chúng ta chỉ cần thắp ngọn lửa trong lòng chúng ta lên, nghĩa là chúng ta chỉ cần đại độ mở cửa lòng chúng ta ra để đón nhận Chúa đến, và Chúa sẽ làm cho ngọn lửa lòng chúng ta sáng rực lên trong sự cầu nguyện.
            Thống chế Foch hãnh diện nói:
            - "Tôi đã cầu nguyện. Tôi đã luôn cầu nguyện. Tôi đã cầu nguyện khi trời lạnh cũng như khi trời nóng".
            Khi vua Albert thấy thành Verdun sắp bị thất thủ vào tay quân địch, liền hỏi thống chế Foch tình hình thế nào, thống chế Foch bình tĩnh trả lời: "Tâu bệ hạ, chúng ta hãy cầu nguyện!"

            Năm 1852, linh mục Duffo ở New Orleans, Hoa Kỳ, đi vào một cửa tiệm để mua đồ. Ngài gặp một thanh niên 17 tuổi đang đứng bán. Ngài hỏi anh một câu bất ngờ:
            - "Anh có muốn làm linh mục không?"
            Người thanh niên nầy buồn bã trả lời:
            - "Thưa cha, con biết làm sao được. Con lo giúp việc đây suốt ngày. Con không rãnh được chút nào."
            Cha Duffo động viên: "Nhưng ban đêm, con đến, cha dạy cho."
            Người thanh niên đó, sau nầy, trở thành linh mục, giám mục, hồng y tổng giám mục Baltimore, với danh hiệu James Gibbons, được toàn thế giới biết tiếng.
            Người công giáo Việt nam chúng ta hiện nay luôn thao thức về ơn gọi linh mục trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng chúng ta không ngã lòng, không bi quan vì đây là ơn thiên triệu chứ không phải đặc ân gì của loài người ban cho.
            Ơn Chúa kêu gọi thật lạ lùng! Và hạnh phúc cho ai, trực tiếp hay gián tiếp, làm cho Giáo Hội có thêm được một kẻ đi bắt linh hồn người ta.

Sưu tầm